Ba phương pháp đo thị lực cơ bản mà chúng ta nên biết

Thị lực có vai trò quan trọng trong chức năng thị giác, bao gồm nhiều thành phần khác nhau với công dụng chủ yếu là giúp phân biệt ánh sáng, không gian,… Ngày hôm nay, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn ba phương pháp đo thị lực cơ bản.

Đo thị lực xa

Phương pháp này được thực hiện trong 1 căn phòng tối. Khi bệnh nhân được đặt trong phòng tối, họ sẽ được ngồi cách bảng thị lực 5 mét. Nếu là loại bảng thị lực có máy chiếu thì khoảng cách thử có thể điều chỉnh và thay đổi, kích chữ cũng có thể được điều chỉnh sao cho phù hợp hơn. Bảng thị lực phải đáp ứng những yêu cầu như có đủ độ sáng, có kích thước chữ phù hợp.

Cách tiến hành như sau, bệnh nhân bị che 1 mắt trái, các bác sĩ sẽ yêu cầu bệnh nhân đọc từ chữ 1 bằng mắt phải từ dòng trên đến dòng dưới. Sau đó che mắt phải bệnh nhân và làm ngược lại. Cuối cùng, để bệnh nhân mở cả hai mắt rồi thử thị lực đồng thời hai mắt. Sau đó ghi lại kết quả thử thị lực ở dòng chữ nhỏ nhân bệnh nhân đọc được.

Đo thị lực với kính lỗ

Kính lỗ thực chất là vật che mắt có một hoặc nhiều lỗ, nó có kiểu dáng giống như cái kính che màu đen. Sử dụng kính lỗ sẽ cho phép bạn nhanh chóng phân biệt được độ tăng giảm thị lực bởi tật khúc xạ với các tổn thương đáy mắt hay thể thủy tinh.

Cách tiến hành như sau: Che 1 bên mắt không cần thử, sau đó đặt kính lỗ trước mắt cần thử. Các bác sĩ sẽ điều chỉnh vị trí của kính lỗ sao cho bệnh nhân có thể nhìn rõ chữ thử 1 cách hiệu quả nhất. Sau đó, bác sĩ sẽ yêu cầu bệnh nhân đọc từng hàng chữ lần lượt theo chiều từ trên xuống dưới hàng chữ nhỏ nhất. Kết quả cuối cùng sẽ được ghi lại.

Đo thị lực gần

Với phương pháp đo thị lực này, bảng thị lực sẽ được đặt cách mắt ở khoảng cách từ 33 – 35 cm trong điều kiện đủ ánh sáng. Trước hết, che mắt trái của bệnh nhân rồi yêu cầu họ đọc từng chữ ở dòng nhỏ nhất trong bảng. Sau đó che mắt phải và tiến hành đo thị lực mắt trái như vậy. Cuối cùng, không che mắt và đo thị lực cả hai mắt đồng thời. Các bác sĩ khi đo xong sẽ ghi kết quả thị lự của mỗi mắt và cả hai bên mắt. Ví dụ, kết quả là P2 nếu bệnh nhân đọc được dòng số 2 của bảng Parinaund, J4 nếu bệnh nhân đọc được dòng số 4 của bảng Jaeger và sẽ là 4/10 nếu như thị lực gần tương đương với thị lực xa 4/10.

Bài viết liên quan

Hỗ trợ trực tuyến

08 62648788

Ý kiến khách hàng